|
Chức năng thực hiện trao đổi chất của các tế bào giống tế bào gan, biệt hóa từ tế bào gốc biểu mô màng dây rốn..
(Báo cáo tại Hội thảo khoa học: Ứng dụng tế bào gốc - Từ lý thuyết đến hiện thực lần thứ 2, ngày 19/05/2011.)
Han Hui Cheong1, Jeyakumar Masilamani2,
Chun Yong Eric Chan1, Sui Yung Chan1, Toàn Thắng Phan2,3,4
1 : Khoa Dược, Đại học Quốc gia Singapore, Singapore.
2 : Khoa Phẫu thuật, Trường Y Yong Loo Lin, Đại học Quốc gia Singapore.
3 : Chương trình Kỹ thuật Mô, Viện Khoa học Đời sống, Đại học Quốc gia Singapore.
4 : Công ty Cell Research Corp Pte. Ltd, Singapore.
Trao đổi thông tin:
Phó Giáo sư Phan Toàn Thắng
- Email: surptt@nus.edu.sg
- Địa chỉ văn phòng: Khoa Phẫu thuật, trường Y Yong Loo Lin, Đại học Quốc gia Singapore.
- c / o NUHS Tower Block, tầng 8, 1E Kent Ridge Road, Singapore 119228
Phó Giáo sư SY Chan
- Email: phacsy@nus.edu.sg
- Địa chỉ văn phòng: Khoa Dược, Bộ môn Khoa học, Đại học Quốc gia Singapore.
- 18 Science Drive 4, Singapore 117543
Hỗ trợ tài chính
Công trình này được hỗ trợ bởi các học bổng nghiên cứu được trao cho Han Hui Cheong và quỹ hỗ trợ các nghiên cứu từ Đại học Quốc gia Singapore cho Sui Yung Chan.
Danh sách các chữ viết tắt
HLCs: giống như các tế bào gan
UCLECs: tế bào biểu mô màng dây rốn AFP: α-fetal protein
CK18: cytokeratin 18 CK19: cytokeratin 19 PAS: nhuộm Periodic-Schiff acid
HNF4α: yếu tố hạt nhân gan 4α CYP: cytochrome UPLC / MS / MS: siêu sắc ký lỏng cao áp/ khối phổ
APC: các tế bào tiền thân ở người trưởng thành FBS: huyết thanh bào thai bò
NHeps: tế bào gan bình thường của người DAPI: 4 ',6-diamidino-2-phenylindole OHT: hydroxytestosterone
Tóm tắt:
Cơ sở và Mục tiêu nghiên cứu
Các tế bào gan chính là tiêu chuẩn vàng cho các nghiên cứu về sinh chuyển hóa thuốc trong cơ thể. Tuy nhiên, do sự thiếu hụt trầm trọng của tế bào gan nguyên thủy, nhu cầu cho nguồn tế bào thay thế đáng tin cậy càng lúc càng rõ rệt. Nghiên cứu này nhằm phân lập các tế bào biểu mô vạn năng từ dây rốn, sau đó biệt hóa các tế bào này sang tế bào giống tế bào gan(HLCs), và xem xét tiềm năng của việc sử dụng các tế bào biệt hóa cho mô hình chuyển hóa thuốc trong phòng thí nghiệm.
Phương pháp
Tế bào biểu mô màng dây rốn (UCLECs) được cho cảm ứng biệt hóa thành tế bào gan trong thời gian 28 ngày. HepG2 và các tế bào gan người trữ lạnh từ trước được sử dụng làm đối chứng. Alpha – fetal protein (AFP), albumin, cytokeratin 18 (CK18) và 19 (CK19) được phát hiện bằng phép nhuộm hóa mô miễn dịch. Khả năng lưu trữ Glycogen được đánh giá thông qua nhuộm Periodic-Schiff acid. Phản ứng RT-PCR được thực hiện để kiểm tra các biểu hiện gen của yếu tố hạt nhân gan 4α (HNF4α), isozyme cytochrome P450 1A2, 2C9, 2D6 và 3A4. Các hoạt động chuyển hóa chức năng của HLC được ghi nhận bằng kỹ thuật siêu sắc ký lỏng hiệu năng/khối phổ (UPLC/MS/MS), trong đó protein CYP3A4 được chọn là trọng tâm nghiên cứu và testosterone là cơ chất thuốc.
Kết quả
Sau 28 ngày cảm ứng, hình dạng kiểu hình nguyên bào sợi của UCLECs thay đổi thành hình tròn đa giác giống như tế bào gan. Không thấy có biểu hiện của AFP và CK19, trong khi lại có dấu hiệu điều khiển sự biểu hiện của albumin và CK18. Biểu hiện gen của HNF4α, CYP1A2, CYP2D6 và CYP3A4 được quan sát thấy, nhưng trường hợp đó lại không đúng với CYP2C9. Sau khi ủ 4 giờ với testosterone, UPLC/MS/MS phát hiện bốn chất chuyển hóa của testosterone: 2α-, 6β-, 15β-và 16β-hydroxytestosterone.
Kết luận
Các tế bào biểu mô màng dây rốn (UCLECs) có thể biệt hóa thành các tế bào giống tế bào gan (HLCs), thể hiện các dấu hiệu đặc trưng của gan, và có khả năng thực hiện chức năng trao đổi chất.
|