Các câu hỏi thường gặp

Các câu hỏi thường gặp

1. Tế bào gốc là gì?

Tế bào gốc là tế bào còn non trẻ, có khả năng tự thay mới mình và biệt hoá thành các tế bào chuyên biệt khác để tạo nên các mô, cơ quan khác nhau của cơ thể và thay thế cho các tế bào ở các mô, cơ quan bị mất đi do già và chết tự nhiên hoặc bị tổn thương vì các nguyên nhân khác nhau.

2. Thế nào là máu dây rốn và tế bào gốc máu dây rốn ?

Dây rốn là đoạn kết nối giữa rốn của thai nhi và nhau thai bám ở thành tử cung của người mẹ, có vai trò là cầu nối giữa người mẹ và em bé để vận chuyển ô-xy và các chất dinh dưỡng từ người mẹ chuyển qua em bé. Máu của em bé được chuyển qua dây rốn sang nhau thai để tiếp xúc với máu mẹ qua màng nhau thai để lấy ô-xy và chất dinh dưỡng rồi sau đó qua dây rốn quay trở lại với em bé. Khi em bé sinh ra dây rốn được kẹp và cắt sát phía em bé, phần còn lại dính vào nhau thai thường được vứt bỏ cùng với bánh nhau sau khi sổ nhau dưới dạng rác y tế. Trong đoạn dây rốn và bánh nhau này còn sót lại một lượng máu của em bé được gọi là máu dây rốn. Thành phần của máu dây rốn bao gồm tất cả các thành phần của máu như các tế bào hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu và huyết tương. Ngoài ra trong máu dây rốn còn có các tế bào gốc, chủ yếu là các tế bào gốc tạo máu - là các tế bào sẽ sinh ra tất cả các loại tế bào máu tương tự như các tế bào gốc tạo máu có ở tủy xương. Đấy là lý do tại sao có thể dùng tế bào gốc tạo máu trong máu dây rốn để truyền thay cho tế bào gốc tủy xương.

3. Các tế bào gốc máu dây rốn có thể được dùng để chữa những bệnh gì ?

Cho đến nay các tế bào gốc máu dây rốn đã được dùng để điều trị trên 70 bệnh khác nhau thuộc 3 nhóm bệnh chính. Nhóm thứ nhất chiếm đa số là các bệnh ung thư máu thuộc các dòng tế bào bạch cầu hay u lympho; tiếp theo là các bệnh di truyền (của hồng cầu, của hệ thống miễn dịch và các bệnh về rối loạn chuyển hóa); thứ ba là các bệnh lý không ung thư cũng không do di truyền như suy tủy, thiếu máu nặng …

4. Thế nào là màng dây rốn và tế bào gốc màng dây rốn ?

Dây rốn được bao bọc bên ngoài là một lớp màng quấn quanh tổ chức của dây rốn. Từ lớp màng bao dây rốn này có thể thu được hai loại tế bào gốc là tế bào gốc biểu mô và tế bào gốc trung mô.

5. Các tế bào gốc màng dây rốn có thể được dùng để chữa những bệnh gì ?

Từ tế bào gốc trung mô màng dây rốn các nhà khoa học đã biệt hoá được chúng thành các nguyên bào sợi (là những tế bào phía dưới của da), tế bào mỡ, tế bào sụn, nguyên bào xương, tế bào giống tế bào thần kinh và những tế bào sản sinh chất nhầy mucin. Từ tế bào gốc biểu mô màng dây rốn các nhà khoa học đã biệt hoá được chúng thành tế bào sừng (là những tế bào bề mặt da), tế bào gan và tế bào sản sinh chất nhầy mucin. Khi phối hợp cả hai loại tế bào gốc trung mô và biểu mô các nhà khoa học đã tạo ra những cấu trúc tương đương da, còn được gọi là da nhân tạo không gian ba chiều.

Các nghiên cứu trên thực nghiệm cho thấy tế bào gốc màng dây rốn có khả năng thúc đẩy quá trình liền vết thương do bỏng và các vết thương mạn tính (như các vết loét ở bệnh nhân tiểu đường, bệnh nhân sau chiếu xạ, bệnh nhân liệt bị loét các vùng tì đè). Bên cạnh hướng nghiên cứu ứng dụng điều trị vết thương, các tế bào gốc màng dây rốn cũng đang được nghiên cứu để điều trị phục hồi thính giác và thị giác thông qua sửa chữa tế bào bề mặt và tế bào thần kinh, sửa chữa xương và sụn, phối hợp trị liệu gen với tế bào để điều trị các bệnh như chứng máu chảy không đông do thiếu yếu tố đông máu, và điều trị bệnh tiểu đường.

6. Lợi ích của việc lưu giữ tế bào gốc dây rốn ?

Cất giữ tế bào gốc dây rốn là một biện pháp bảo đảm tương lai sức khoẻ cho con bạn và gia đình bạn. Không ai biết trước một em bé sinh ra khi lớn lên có thể mắc bệnh gì. Nếu các tế bào gốc từ dây rốn của con bạn được cất giữ thì đây sẽ là nguồn tế bào phù hợp nhất để chữa bệnh cho bé. Nếu gia đình bạn có người mắc bệnh cần tế bào gốc để điều trị thì khả năng phù hợp giữa người bệnh và mẫu tế bào của con bạn sẽ cao hơn so với mẫu tế bào của người không cùng huyết thống. Vì thế có thể ví cất giữ tế bào gốc dây rốn như một hình thức “bảo hiểm sinh học”.

7. Muốn lưu giữ dây rốn tại MekoStem, tôi phải làm gì ?

Trước hết bạn liên hệ với MekoStem để được hướng dẫn và làm các thủ tục đăng ký. Bạn nên làm việc này càng sớm càng tốt ngay khi có ý định lưu giữ tế bào gốc dây rốn, chậm nhất là 3 ngày trước khi sinh vì bạn còn phải làm xét nghiệm kiểm tra sức khoẻ sau đó hai bên làm thủ tục đăng ký sử dụng dịch vụ.

Sau khi đã hoàn tất thủ tục đăng ký, ký hợp đồng dịch vụ và đóng phí, bạn sẽ được cung cấp các số điện thoại đường dây nóng của đội thu thập của Ngân hàng. Ngay khi bạn có dấu hiệu chuyển dạ, hoặc có thay đổi lịch dự sinh/ bệnh viện dự sinh so với thông tin đã đăng ký với MekoStem, bạn có thể liên hệ trực tiếp đến các số điện thoại này. Đội thu thập của MekoStem sẽ có mặt tại phòng sinh/phòng mổ của bệnh viện để thu thập mẫu máu và mô dây rốn của con bạn về Ngân hàng để tiến hành xử lý mẫu.

8. Số lượng tế bào gốc có ảnh hưởng đến cuộc ghép sau này không ?

Có. Đối với các bệnh về máu như ung thư máu, Thalassemia, … liều lượng tế bào gốc sử dụng trong quá trình điều trị có liên quan mật thiết với cân nặng của người bệnh, thông thường là 20 triệu tế bào/kg cân nặng. Do đó đối với tế bào gốc máu dây rốn, trong khi kỹ thuật nhân số lượng tế bào lên chưa được hoàn thiện, số lượng tế bào khi thu thập là rất quan trọng.

9. Thời hạn lưu trữ tế bào gốc là bao lâu ?

Tế bào gốc một khi đưa vào giai đoạn lưu trữ ở nhiệt độ -196 độ C là đã được đưa vào trạng thái « ngủ đông ». Lúc này tế bào đã ngưng hoạt động hoàn toàn, không thay đổi trạng thái trong suốt thời gian lưu trữ, nên trên nguyên tắc, thời gian lưu trữ là vĩnh viễn. Trên thực tế, từ khi các dịch vụ về tế bào gốc ra đời cách đây 15 năm, các nhà khoa học đã tiến hành giải đông và đánh giá chất lượng tế bào gốc sau khi được « đánh thức » dậy. Kết quả cho thấy các tế bào lưu trữ ở thời kỳ đầu cách đây 20 năm vẫn cho kết quả tốt, có khả năng mọc các cụm tế bào đặc trưng cũng như không thay đổi khả năng biệt hóa thành các tế bào khác.

Tại MekoStem, hiện nay chúng tôi ký Hợp đồng dịch vụ với khách hàng tối đa là 18 năm. Điều này không có nghĩa chúng tôi chỉ lưu trữ đến 18 năm, mà có nghĩa là lúc này, em bé đã lớn và đủ tư cách pháp nhân để quyết định có tiếp tục việc lưu trữ hay không và trực tiếp đứng tên cho Hợp đồng dịch vụ mới nếu có.

9. Khả năng cấy ghép của tế bào gốc : ghép được cho những ai và dựa trên điều kiện gì ?

Cấy ghép tế bào gốc có thể được thực hiện cho chính bản thân em bé (ghép tự thân) hoặc ghép cho người thân trong gia đình cũng như người ngoài cộng đồng có chỉ số sinh học phù hợp. Anh chị em ruột có xác suất 25% sẽ giống nhau hoàn toàn về các chỉ số này.

Tính hiệu quả của phương pháp cấy ghép tế bào gốc dây rốn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, và một trong những yếu tố quan trọng nhất chính là sự phù hợp về chỉ số sinh học, ở đây chỉ số thường được sử dụng nhất là HLA (kháng nguyên bạch cầu người). Các dấu ấn HLA này được di truyền từ cha mẹ qua cho con cái và được xem như là “dấu vân tay” tế bào, cho phép hệ miễn dịch nhận biết và phân biệt tế bào của cơ thể với các tế bào ngoại lai. Nếu chỉ số HLA của người cho và người nhận hoàn toàn giống nhau, hoặc trong trường hợp ghép tự thân, thì tế bào gốc khi đưa vào chữa trị sẽ dễ dàng được cơ thể chấp nhận. Trong trường hợp chỉ phù hợp một phần, các biện pháp hỗ trợ để hệ miễn dịch không phản ứng thải loại mảnh ghép sẽ được áp dụng.

10. Tế bào gốc được cấy ghép như thế nào ?

Phương pháp ứng dụng tế bào gốc phụ thuộc vào chỉ định của nhà chuyên môn, các bác sĩ tham gia điều trị bệnh. Tế bào gốc máu và màng dây rốn có thể được sử dụng trực tiếp hoặc được sử dụng sau khi đã được nuôi cấy biệt hóa thành các tế bào chuyên biệt như tế bào cơ, xương, tế bào tim,…

Tế bào gốc có thể được đưa vào cơ thể theo đường truyền máu vào tĩnh mạch hoặc có thể tiêm trực tiếp vào vị trí tổn thương, tùy thuộc vào chỉ định của bác sĩ điều trị. Cho dù là cách áp dụng như thế nào thì cũng đòi hỏi điều kiện làm việc và điều kiện phòng mổ/phòng thao tác phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn vệ sinh, vô trùng.

11. Tế bào gốc màng dây rốn có thể dùng để điều trị cho các thành viên trong gia đình hay không?

Có thể. Bởi vì các tế bào gốc màng dây rốn đều có tính ưu việt về miễn dịch, ví dụ như chúng không bị hệ thống miễn dịch của người nhận loại bỏ, ít nhất là trong thời gian ngắn. Các nhà khoa học cho rằng nguyên nhân có thể là do các tế bào màng dây rốn có biểu hiện các phân tử HLA-G và HLA-E, là các phân tử có khả năng “khóa” các tế bào miễn dịch mang nhiệm vụ nhận biết và loại bỏ “vật thể lạ” trong cơ thể.

12. 10 điều nên biết về HLA

1.HLA là chữ viết tắt của cụm từ Human Leukocyte Antigen, dịch ra tiếng Việt là kháng nguyên bạch cầu của người. Tên gọi này bắt nguồn từ việc chúng được nghiên cứu và phát hiện đầu tiên ở các tế bào bạch cầu của người.

2.Chức năng của các phân tử HLA là tham gia vào quá trình giới thiệu các chất lạ xuất hiện trong cơ thể (các thành phần của vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể hay các sản phẩm do tế bào ung thư tạo ra) để từ đó phát động đáp ứng miễn dịch tạo ra sức đề kháng chống lại nhiễm trùng và ung thư. Vì HLA có liên quan đến khả năng đề kháng hay mắc bệnh của cơ thể, nên có thể coi thông tin về HLA của một người như một phần lá số “tử vi y học” của người đó.

3.Nếu so sánh các phân tử protein của người này với người kia, đa số các phân tử (ví dụ như albumin trong máu, collagen trong mô, một số protein trên màng và trong nguyên sinh chất của tế bào...) đều có cấu trúc giống nhau, nhưng cấu trúc HLA thường không giống nhau. Chính sự khác biệt về HLA đã tạo nên cái “tôi” của mỗi con người, và khi đem tế bào và mô của người này cấy ghép vào người khác thì chính các phân từ HLA sẽ được hệ thống miễn dịch của người nhận “săm soi” xem có giống của mình không. Nếu giống thì không tấn công và đào thải còn không thì sẽ tạo ra đáp ứng miễn dịch đào thải tế bào và mô cấy ghép. Vì thế HLA còn được gọi là kháng nguyên ghép và xét nghiệm HLA trở thành xét nghiệm bắt buổi phải làm đối với cả người cho và người nhận rồi so sánh, nếu phù hợp thì mới cấy ghép còn không phù hợp thì không cấy ghép.

4.HLA được di truyền theo kiểu haplotype có nghĩa là lấy y nguyên 50% từ cha và 50% từ mẹ. Từ đó, nếu đem so sánh thông số HLA của con với HLA của bố và mẹ thì 50% giống cha và 50% giống mẹ không hơn không kém. Từ ý nghĩa này xét nghiệm HLA còn được dùng để xác định huyết thống.

5.Cũng do HLA được di truyền theo kiểu haplotype nên khi so sánh HLA của anh chị em ruột có thể xảy ra các tình huống: giống hệt nhau (25%), giống nhau một phần (75%). Vì vậy các trường hợp cấy ghép tế bào, mô, cơ quan thường được tiến hành với những người thân trong gia đình với nhau.

6.Trong khi cơ hội anh chị em ruột có HLA giống hệt nhau với tỷ lệ 1 trên 4, tỷ lệ này trong cộng đồng người cùng chủng tộc chỉ khoảng từ 4 đến 6 người/ 1 vạn dân. Từ đó khi tìm người cho tế bào và mô để cấy ghép thường ưu tiên tìm những người trong nhà hơn.

7.Thông số HLA của mỗi con người là không thay đổi trong suốt cuộc đời, trừ trường hợp người đó đã được cấy ghép tế bào gốc của người khác có chỉ số HLA khác với mình. Khi đó các tế bào gốc lạ cấy ghép này sinh ra các tế bào mới trộn lẫn với tế bào của người nhận là cho thông số HLA mang của cả 2 người. Hiện tượng hỗn tạp này giống như hình ảnh “Chimer” (nhân sư hay nhân mã) trong thần thoại Hy Lạp và khoa học dùng ngay chữ “chimer” đẻ chỉ hiện tượng này khi cấy ghép.

8.Ai phải xét nghiệm HLA? Nói đến cấy ghép tế bào, mô, tạng là nói đến HLA. Vì thế bất kỳ ai có ý định nhận cũng như cho tế bào, mô, tạng để cấy ghép đều phải xét nghiệm HLA để xem người cho và người nhận có phù hợp với nhau không.

9.Ai nên xét nghiệm HLA? HLA là một chỉ số sinh học không thay đổi và khác biệt giữa người này và người kia nên thông tin về HLA của mỗi người như là một dạng “căn cước sinh học” để nhận dạng người này với người kia cũng như một phần của lá số “tử vi y học” để tiên lượng sức khỏe và bệnh tật của mỗi người.Từ đó, nếu có điều kiện, mọi người đều nên xét nghiệm HLA.

10.Người lưu giữ tế bào gốc trong ngân hàng có nên xét nghiệm luôn HLA hay không? Càng nên vì ngoài lợi ích như nêu trên, việc có sẵn thông tin HLA của mẫu tế bào gốc (và cũng là của chủ nhân sinh học của mẫu tế bào gốc) sẽ rất thuận tiện và nhanh chóng cho việc tìm người cẫn mẫu tế bào gốc đó để cấy ghép cũng như tìm thêm mẫu tế bào gốc khác để cấy ghép cho chủ nhân sinh học của mẫu tế bào gốc lưu giữ trong ngân hàng một khi việc việc điều trị đòi hỏi phải có lượng tế bào gốc nhiều hơn để cấy ghép hoặc ghép hết tế bào rồi không khỏi cần phải ghép lại.

 

Trở lại trang trước
Ngân hàng tế bào gốc MekoStem - www.mekostem.com
Hồ Chí Minh : 297/5 Lý Thường Kiệt, phường 15, Quận 11, Tp HCM
Điện thoại: [028] 38 686 546 - Fax: [028] 38 650 394
Hà Nội : 95 Láng Hạ, Quận Đống Đa, Tp. Hà Nội
Điện thoại: [024] 35 14 35 35 - Fax: [024] 62 75 08 02