Facebook Google Plus Twitter

Nghiên cứu điều trị đột quỵ bằng dị ghép tế bào gốc máu dây rốn

Parent's Guide to Cord Blood, 09/2019

Tiến sĩ Frances Verter

Khả năng sử dụng tế bào gốc máu dây rốn để điều trị cho bệnh nhân đột quỵ là một lĩnh vực nghiên cứu có tiềm năng to lớn. Trên toàn thế giới, cứ 6 người thì có 1 người mắc đột quỵ và đây cũng là nguyên nhân gây tử vong phổ biến xếp thứ hai (1-3). Bất kỳ liệu pháp mới nào ứng dụng trong điều trị đột quỵ đều có thể có được nguồn doanh thu to lớn. Đối với ngành công nghiệp máu dây rốn, ứng dụng mới của ghép đồng loài máu dây rốn trong điều trị một bệnh phổ biến có thể cứu các ngân hàng công đang gặp khó khăn về tài chính (4, 5).

Định nghĩa của đột quỵ là cái chết đột ngột của các tế bào não do thiếu oxy, điều này xảy ra khi dòng máu bị gián đoạn tại một vùng của não. Trong khoảng 87% ca đột quỵ, dòng máu bị gián đoạn do tắc nghẽn và đây được gọi là đột quỵ do thiếu máu cục bộ. Ngoài ra đột quỵ cũng có thể do chảy máu trong não và đây được gọi là đột quỵ xuất huyết (1).

Các liệu pháp tế bào gốc nổi lên như một ví dụ điển hình cho điều trị đột quỵ khoảng một thập kỷ trước (6). Trái với hiểu biết trước đây, hiện nay chúng ta biết rằng não có thể phục hồi ở một mức độ nào đó sau chấn thương và liệu pháp tế bào gốc mang đến cơ chế sửa chữa đa cách thức đầy tiềm năng. Ngay sau khi đột quỵ, một số sự kiện diễn ra xung quanh vùng nhồi máu bao gồm phù nề (edema), mất dẫn truyền hướng tâm (deafferentation) và viêm. Việc giải quyết phù nề và viêm có thể giúp phục hồi một số chức năng sớm. Tuy nhiên, điều này thường bị hạn chế và các quá trình khác như điều hòa miễn dịch, tạo mạch, tạo dây thần kinh nội sinh và biểu hiện của các gen bị biến đổi có thể liên quan đến sự phục hồi chức năng lâu dài (7).

Theo nguồn CellTrials.org, trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 7 năm 2019, có 77 thử nghiệm lâm sàng đã được đăng ký trên toàn thế giới trong điều trị đột quỵ bằng liệu pháp tế bào, với 68% các thử nghiệm được liệt kê trên ClinicalTrials.gov và 32% được liệt kê trong 9 đăng ký thử nghiệm khác (8).

Nguồn tế bào phổ biến nhất sử dụng trong liệu pháp tế bào điều trị đột quỵ là từ tủy xương, với 43% trong số 77 thử nghiệm này (xem hình 1). Một số liệu pháp điều trị đột quỵ được thực hiện từ tủy xương có một chiều hướng phát triển mạnh mẽ và hầu như được sự chấp thuận ở các quốc gia. Ví dụ, công ty Athersys có trụ sở tại Cleveland đã được FDA chấp thuận về chương trình trị liệu y học tái tạo tiên tiến (RMAT) cho sản phẩm MultiStem® của họ. Athersys đã bắt đầu thử nghiệm giai đoạn 3 (NCT03545607) vào tháng 6 năm 2018, tuyển chọn 300 bệnh nhân tại 6 trung tâm y tế ở Hoa Kỳ. Trong khi đó, công ty SanBio của Nhật Bản đã hoàn thành thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 (NCT02448641) cho sản phẩm cấy ghép SB623 của họ đã được đăng ký vào năm 2015 và thực hiện tại 65 địa điểm trên khắp Hoa Kỳ. Thử nghiệm đó đã đáp ứng các mục tiêu chính yếu của nó và vào tháng 4 năm 2019, SanBio đã nhận được Chỉ định Sakigake cho sản phẩm SB623, chỉ định này là phiên bản tiếng Nhật của một tóm tắt nhanh để được phê duyệt.

Loại tế bào phổ biến nhất được sử dụng trong liệu pháp tế bào điều trị đột quỵ là tế bào gốc trung mô (MSC) chiếm 49% trong số 77 thử nghiệm này (xem hình 2), đôi khi chúng được gọi bằng tên khác trong các sản phẩm của công ty. Một nhóm phổ biến khác là các tế bào đơn nhân (MNC) thu nhận từ máu, chiếm 35% trong các thử nghiệm này. Trong đó, điều trị đột quỵ bằng MNC từ máu dây rốn chiếm 17% tổng số thử nghiệm.

Máu dây rốn đang nổi lên như một đối thủ nặng ký trong liệu pháp tế bào cho điều trị đột quỵ. Lý do chính là vì MNC từ máu dây rốn ít kích thích phản ứng mảnh ghép chống túc chủ (graft-versus-host reaction) hơn so với các nguồn MNC trưởng thành. Kể từ năm 2011, mọi thử nghiệm điều trị đột quỵ sử dụng MNC nguồn gốc từ tủy xương hoặc máu ngoại vi đều là ghép tự thân (autologous), nghĩa là bệnh nhân sử dụng tế bào được thu nhận từ chính cơ thể mình. Để so sánh, tất cả các thử nghiệm điều trị đột quỵ ở người trưởng thành sử dụng máu dây rốn đều là ghép đồng loài (ngoại lệ là một vài thử nghiệm được thiết kế để điều trị đột quỵ ở trẻ sơ sinh).

Một xu hướng gần đây là điều trị đột quỵ với các tế bào máu dây rốn để chống lại yêu cầu về sự phù hợp của HLA. Vào tháng 3 năm 2015, Đại học Duke đã bắt đầu một thử nghiệm mới giai đoạn 1 (NCT02397018) để kiểm tra độ an toàn của việc điều trị bệnh nhân đột quỵ bằng phương pháp truyền máu dây rốn không phù hợp hoàn toàn trừ tiêu chuẩn về nhóm máu ABO. Mười bệnh nhân trong độ tuổi 45 đến 79 bị đột quỵ do thiếu máu cục bộ đã được truyền tĩnh mạch trong vòng 3 đến 10 ngày sau đột quỵ và không ghi nhận có xảy ra tác dụng phụ nào liên quan trong quá trình trị liệu. Kết quả từ thử nghiệm này đã được công bố vào tháng 5 năm 2018 (9). Hiện tại, Duke và các cộng sự đang thực hiện thử nghiệm mù đôi giai đoạn 2 (NCT03004976) lớn hơn tại 6 trung tâm y tế với mục tiêu tuyển chọn 100 bệnh nhân vào tháng 3 năm 2020.

Có những ví dụ đáng chú ý khác về thử nghiệm máu dây rốn cho đột quỵ. Ngân hàng máu dây rốn lai StemCyte đã hỗ trợ cho các thử nghiệm (NCT01673932) ở Hồng Kông và (NCT02433509) ở Đài Loan, và đã sử dụng máu dây rốn để điều trị cho những bệnh nhân có tối thiểu 4 trên 6 HLA phù hợp. Tại Hàn Quốc, trung tâm nghiên cứu tại Bệnh viện Bundang CHA đã tiến hành thử nghiệm (NCT01884155) vào năm 2013 và vào tháng 7 năm 2019, họ đã đăng ký thử nghiệm giai đoạn 2 (NCT04013646) để điều trị cho bệnh nhân đột quỵ bằng máu dây rốn có tối thiểu 3 trên 6 HLA phù hợp. Cũng trong tháng 7 năm 2019, trung tâm khám chữa bệnh Blue Horizon International đã đăng ký với WHO về thử nghiệm cho 97 bệnh nhân đột quỵ được điều trị tại Trung Quốc bằng máu dây rốn chỉ có phù hợp nhóm máu ABO (ISRCTN10678357).

Nếu các thử nghiệm lâm sàng về liệu pháp điều trị bằng máu dây rốn đồng loài cho bệnh nhân đột quỵ tiếp tục đáp ứng được các mục tiêu mong muốn của họ, đây có thể là một ứng dụng mới thú vị của nguồn máu dây rốn hiến tặng. Tại Hoa Kỳ, khoảng 795.000 người bị đột quỵ mỗi năm và 140.000 người tử vong (1-3). Nếu chỉ 1% số bệnh nhân này được điều trị bằng liệu pháp tế bào, thì điều đó sẽ tương đương với tổng số ca ghép tế bào gốc đồng loài mỗi năm ở Hoa Kỳ (10).

Cuối cùng, một liệu pháp máu dây rốn thành công sẽ dẫn đến sự cạnh tranh với các sản phẩm trị liệu tế bào cho đột quỵ sắp được chấp thuận. Khả năng sử dụng các tế bào máu dây rốn như một sản phẩm có sẵn (“off-the-shelf”) (thực tế là từ tủ đông lạnh) không cần tính đến sự phù hợp HLA sẽ giúp máu dây rốn có tính cạnh tranh hơn với các liệu pháp tế bào khác dựa trên MSC và hoạt động như các sản phẩm hiến tặng phổ biến khác.

Bất kể nghiên cứu nào về máu dây rốn đồng loài trong điều trị đột quỵ đều hứa hẹn sẽ là một chủ đề thú vị để tiếp tục theo dõi.

Tài liệu tham khảo:

  1. American Stroke Association Stroke.org  
  2. Mozaffarian D, Benjamin EJ, Go AS et al. Heart disease and stroke statistics–2015 update: A report from the American Heart Association. Circulation 2015; 131: e29– e322.
  3. Feigin VL, Forouzanfar MH, Krishnamurthi R et al. Global and regional burden of stroke during 1990–2010: Findings from the Global Burden of Disease Study 2010; Lancet 2014; 383: 245– 254.
  4. Kapinos KA, Briscombe B, Gračner T, Strong A, Whaley C, Hoch E, Hlávka JP, Case SR, Chen PG. Challenges to the Sustainability of the U.S. Public Cord Blood System. 2017; RAND Corporation
  5. Verter F, Mandot VA. Public Banking Without Bankrupting. July 2019; Parent's Guide to Cord Blood Newsletter
  6. Stem Cell Therapies as an Emerging Paradigm in Stroke (STEPS): Bridging basic and clinical science for cellular and neurogenic factor therapy in treating stroke. Stroke 2009; 40(2):510–515.
  7. Kalladka D, Muir KW. Brain repair: Cell therapy in stroke. Stem Cells Cloning 2014; 7:31– 44.
  8. Cell Trials Data. Accessed Sept 2019; CellTrials.org
  9. Laskowitz DT, Bennett ER, Durham RJ, Volpi JJ, Wiese JR, Frankel M, Shpall E, Wilson JM, Troy J, Kurtzberg J. Allogeneic Umbilical Cord Blood Infusion for Adults with Ischemic Stroke: Clinical Outcomes from a Phase I Safety Study. Stem Cells Translational Medicine 2018; 7(7):521-529
  10. Center for International Blood and Marrow Transplant Research (CIBMTR). Number of HCTs performed in the United States and reported to CIBMTR - by year and donor type 2012-2016. Data

Nguồn: Parent's Guide to Cord Blood




Facebook Google Plus Twitter


Trở lại trang trước
Hồ Chí Minh : 297/5 Lý Thường Kiệt, phường 15, Quận 11, Tp HCM

Điện thoại: [028] 38 686 546 - Fax: [028] 38 650 394
Hà Nội : Tầng 15 toà nhà Charmvit, số 117 Trần Duy Hưng,
quận Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: [024] 35 14 35 35 - Fax: [024] 62 75 08 02